Home Tổ chuyên môn Sử - GD Thư viện chuyên môn Nguyên tắc và biện pháp sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra - đánh giá

Nguyên tắc và biện pháp sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra - đánh giá

Một số  Nguyên tắc và biện pháp sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra - đánh giá môn  lịch sử ở trường trung học phổ thông                       
Kiểm tra - đánh giá là khâu không thể thiếu trong quá trình dạy học. Hoạt động này không chỉ nhằm ghi nhận kết quả đạt được của học sinh mà còn hướng vào việc đề xuất những phương hướng đổi mới, cải thiện thực trạng, điều chỉnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục. Như vậy có thể nói kiểm tra - đánh giá là hoạt động có ý nghĩa hết sức to lớn đối với quá trình dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng. Tuy nhiên kết quả thi tốt nghiệp và tuyển sinh đại học những năm gần đây đã góp phần báo động về hiệu quả của việc dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông, mà nguyên nhân là có một phần do sự phản ánh chưa chính xác kết quả của học sinh trong quá trình học tập. Trước những yêu cầu của xã hội đối với sản phẩm của giáo dục, kiểm tra - đánh giá  trong dạy học lịch sử cần phải có những thay đổi, từ bỏ lối kiểm tra thiên về khả năng ghi nhớ, tái hiện tri thức đã có, chú trọng hình thức, không phản ánh được xu hướng vươn lên của học sinh, phải kích thích tư duy năng động, sáng tạo, rèn luyện kỹ năng phát hiện và giải quyết vấn đề. Phương pháp kiểm tra chủ yếu được sử dụng trong nhà trường hiện nay là kiểm tra bằng câu hỏi tự luận. Thực tế cho thấy tuy có một số ưu điểm nhưng phương pháp này cũng còn có nhiều hạn chế, dễ gây tình trạng tiêu cực, làm cho kết quả kiểm tra - đánh giá không được đảm bảo khách quan. Việc kết hợp với  những phương pháp kiểm tra hiện đại khác là cần thiết để nâng cao chất lượng của việc kiểm tra đánh giá môn học này. Với khuôn khổ của một bài báo chúng tôi xin đưa ra một số nguyên tắc xây dựng và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra đánh giá môn Lịch sử ở trường THPT qua quá trình nghiên cứu và thực tế giảng dạy, nhằm góp phần nâng cao chất lượng nội dung các bài kiểm tra trong nhà trường hiện nay.  

1 Nguyên tắc xây dựng và sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra - đánh giá kiến thức lịch sử ở trường trung học phổ thông.

1.1 Những nguyên tắc chung khi xây dựng câu hỏi trắc nghiệm khách quan

Nguyên tắc 1.

Câu hỏi cần phải tuân thủ đúng những nguyên tắc về mặt lí luận và bám sát vào nội dung của chương trình cần kiểm tra - đánh giá. Nguyên tắc này là nhân tố cần thiết đảm bảo cho tính chính xác và khoa học của các câu hỏi trắc nghiệm khách quan khi được xây dựng để đánh giá kết quả học tập của học sinh trong nhà trường.

 

Ví dụ: Câu hỏi vi phạm nguyên tắc:  Kim Tự Tháp có điểm gì bí ẩn?

 

a.         Do người ngoài trái đất xây dựng.

b.         Những người từng tham gia khai quật Kim Tự Tháp đều bị chết một cách bí ẩn.

c.         Các Kim Tự Tháp đều có mối quan hệ nhất định với hệ  Mặt Trời.

d.         Tất cả những điểm trên.

 

Nguyên tắc 2. Cần phải đưa ra các mệnh đề chính xác về mặt cú pháp. Đây là quy tắc chuẩn  cho quá trình xây dựng tất cả các loại câu hỏi trong kiểm tra - đánh giá. Đảm bảo chính xác về mặt cú pháp cũng là cơ sở đảm bảo cho sự chính xác và khoa học của đáp án, tránh gây sự tranh cãi, hiểu nhầm của học sinh trong quá trình hiểu câu hỏi và lựa chọn các đáp án.

 

Nguyên tắc 3. Không được đưa ra các thuật ngữ không rõ ràng nhằm mục đích đánh đố tư duy học sinh. Câu trắc nghiệm nhằm mục đích kiểm tra kiến thức của học sinh trên cơ sở nhận thức và tư duy khoa học của các em chứ không nhằm đánh đố học sinh bằng những thủ thuật của từ ngữ. Hiện tượng này thường xảy ra khi xây dựng các câu điền thế.

 

Nguyên tắc 4. Tránh các hình thức câu phủ định (cả về mặt cú pháp lẫn ngữ nghĩa) và việc đặt nhiều mệnh đề phủ định trong câu hỏi. Sự xuất hiện nhiều mệnh đề phủ định sẽ gây phức tạp cho học sinh khi trả lời câu hỏi. Việc tích tụ nhiều mệnh đề phủ định có thể gây khả năng hiểu nhầm trong việc lựa chọn các câu trả lời.

 

Ví dụ:  Em hãy chọn câu nhận định đúng nhất trong những câu sau đây:

a.         Nô lệ không có quyền tham gia bầu cử.

b.         Công dân tự do và kiều dân không có quyền tham gia bầu cử.

c.         Chỉ có chủ nô là có quyền bầu ra các cơ quan nhà nước.

d.         Công dân tự do là người trực tiếp bầu và cử các cơ quan nhà nước.

 

Nguyên tắc 5. Cần phải tách biệt rõ ràng phần dữ kiện và phần câu hỏi trong câu. Cần tránh trường hợp dùng từ nối giữa phần hỏi và phần dữ kiện trả lời, hoặc các phần dữ kiện với nhau.

 

1.2 Các nguyên tắc biên soạn liên quan đến việc cân đối câu hỏi trắc nghiệm với các mục đích hỏi

 

Nguyên tắc 1: Yêu cầu xác định nội dung cần kiểm tra trước khi xây dựng câu hỏi.

Đây chính là nhân tố cơ bản nhất để đảm bảo hiệu quả của việc kiểm tra - đánh giá. Nội dung kiểm tra chính là những kiến thức cơ bản học sinh cần phải nắm thông qua các bài đã học. Hay nói cách khác các câu hỏi phải đại diện cho nội dung cần kiểm tra - đánh giá, đảm bảo tính vừa sức và phân hoá được học sinh trong một môi trường đánh giá.

 

Nguyên tắc 2: Câu hỏi trắc nghiệm phải gắn liền với mục đích kiểm tra và phù hợp với  cách đánh giá.

Như vậy tuỳ theo trường hợp mà chúng ta lựa chọn loại câu hỏi cho phù hợp với nội dung cần đánh giá. Ví như khi đánh giá các kiến thức mang tính chất tổng quát nên sử dụng loại câu điền thế dưới hình thức điền đầy đủ thông tin vào bảng cho sẵn theo những yêu cầu nhất định.

 

Nguyên tắc 3. Các yếu tố gây ra sự sao nh•ng trong câu hỏi cần phải chỉ rõ được các lỗi hoặc các lối tư duy không chính xác của học sinh.

Đây chính là một trong những hình thức giáo dục tốt nhất giúp học sinh tránh dần được những lỗi chủ quan của mình, rèn luyện một khả năng tư duy chắc chắn. Do đó giáo viên cần phải có sự lựa chọn kĩ càng các phương án lựa chọn sao cho học sinh phải thực sự là người nắm chắc chắn kiến thức mới có thể trả lời đúng. Cần tránh trường hợp đưa ra những câu lựa chọn mà học sinh có thể dễ dàng nhìn thấy được sự khác nhau giữa đán án đúng và các phương án còn lại.

 

1.3 Một số nguyên tắc trong việc biên soạn các giải pháp trả lời

 

Nguyên tắc 1. Các phương án trả lời phải độc lập với nhau về mặt ngữ pháp.

 

            Nguyên tắc này đòi hỏi mỗi phương án là một câu hoàn chỉnh hoặc chưa hoàn chỉnh  nhưng giữa các câu không được sử dụng các từ nối như “và”, “bên cạnh”, “cùng với”...Sự liên hệ về ngữ pháp vừa vi phạm tính khoa học của một câu trắc nghiệm đồng thời không thể nào giúp học sinh chọn ra được một câu đúng nhất.

 

Ví dụ.  Yếu tố quyết định đến sự tiến hoá của con người là:

a.         Theo cơ chế sinh học: tiến hoá từ động vật bậc thấp đến bậc cao

b. Hay là do quá trình lao động tạo ra sự thay đổi của con người

c. Hoặc sự thay đổi khí hậu dẫn đến sự thay đổi phương thức sống

d. Chế tạo và sử dụng công cụ lao động hàng ngày.

 

Nguyên tắc 2. Các giải pháp đưa ra phải độc lập với nhau về mặt ngữ nghĩa.

Người biên soạn ít kinh nghiệm hoặc không để yd thường vi phạm nguyên tắc này, nhất là trong việc đưa ra các chỉ số, mốc thời gian hoặc các đặc điểm.

 

Nguyên tắc 3. Không được đưa ra những phương án không có nghĩa phù hợp với nội dung câu hỏi để đánh lạc hướng người trả lời.

 

Ví dụ:  Quan niệm của người Hi Lạp về mặt trời và trái đất là:

a.         Mặt trời chuyển động quanh trái đất.

b. Trái đất chuyển động quanh mặt trời.

c. Mặt trời là Đấng chí tôn vĩ đại nhất của loại người trên trái đất.

d. Mặt trời chuyển động quanh trái đất còn trái đất tự quay quanh trục của nó.

 

Nguyên tắc 4. Tránh dùng chung từ cho phần câu hỏi và phần giải pháp trả lời.

 

Ví dụ câu hỏi sau đây vi phạm nguyên tắc: Vương triều Hồi giáo Đê li đóng đô ở đâu?

a. Thành phố Cancútta               b. Thành phố Đêli

c. Thành phố Bom bay               d. Thành phố Mô gôn

 

Nguyên tắc 5. Không được biên soạn câu trả lời đúng một cách chi tiết và đầy đủ nhất còn các phương án khác loại quá qua loa sơ sài. Các giải pháp trả lời phải có độ phức tạp như nhau.

 

Nguyên tắc 6. Các dữ kiện trong phần câu hỏi phải có cùng mức độ tổng quát.

            Các từ như “tất cả”, “luôn luôn”, “không bao giờ”... mang tính chất tuyệt đối và dứt khoát. Đây là những trường hợp thường được học sinh đề phòng và tránh lựa chọn những giải pháp có sử dụng các loại từ trên. Tâm lí học sinh thường chọn những câu có các từ ở mức độ vừa phải như “đôi khi”, “một vài”, “có thể là”... Chính vì thế các giải pháp phải có mức độ phức tạp như nhau mới có thể gây nhiễu hiệu quả .

 

Nguyên tắc 7. Trong một bài kiểm tra cần lưu ý không để cho câu dẫn của câu hỏi này là gợi ý đúng cho giải pháp lựa chọn của câu hỏi khác. Trong ngân hàng câu hỏi có thể có những câu như thế những khi lựa chọn để sắp xếp các câu hỏi trong một đề kiểm tra thì giáo viên phải lưu ý tránh vi phạm quy tắc này.

 

2. Các biện pháp sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong dạy học lịch sử ở  trung học phổ thông

2.1. Sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra bài cũ hoặc 15 phút 

            Việc kiểm tra bài cũ được tiến hành thường xuyên do đó nó dễ trở thành một công việc nhàm chán, đôi khi gây mất hứng thú của tiết học. Một trong những cách khắc phục là giáo viên có thể thay thế những câu hỏi kiểm tra miệng bằng câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong thời gian ngắn. Việc thay đổi này không chỉ nhằm mục đích tạo hứng thú cho học sinh mà làm cho việc kiểm tra - đánh giá của giáo viên cũng trở nên sinh động và nhẹ nhàng hơn nhiều.  Cùng với việc thay thế cho kiểm tra miệng, có thể sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan vào bài kiểm tra 10-15 phút. Đối với loại hình này, giáo viên có thể lựa chọn kiến thức trong một vài bài gần nhau để ra đề, có thể ưu tiên cho loại câu hỏi nhiều lựa chọn.

 

2.2 Sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan ở cuối mỗi bài học

            Đây là hình thức kiểm tra ngay sau khi vừa giảng xong bài mới để kiểm tra mức độ nắm kiến thức bài mới của học sinh và qua đó thấy được hiệu quả phương pháp giảng dạy của giáo viên. Sau khi giảng xong bài mới giáo viên có thể dành khoảng 5 đến 10 phút để kiểm tra lại việc tiếp thu kiến thức của học sinh bằng các câu trắc nghiệm khách quan đã được chuẩn bị sẵn.

 

2.3 Sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan trong kiểm tra một phần, một khóa trình lịch sử (bài kiểm tra một tiết)

            Đối với bài kiểm tra 45 phút trở lên, bài kiểm tra kiến thức có thể ra đề theo dạng trắc nghiệm khách quan hoàn toàn hoặc có sự kết hợp giữa câu hỏi trắc nghiệm với câu tự luận, tuỳ theo mức độ yêu cầu và đặc điểm của từng phần bài cụ thể. Bài kiểm tra viết từ một tiết trở lên đòi hỏi giáo viên phải có sự lựa chọn kiến thức mang tính chất sâu rộng và bao quát hơn với nhiều bài học. Đề ra cần hạn chế sử dụng các dạng câu lựa chọn đúng-sai và câu có nhiều lựa chọn, tăng cường loại câu điền thế và trắc nghiệm ghép đôi. Vấn đề đặt ra là giáo viên phải cân đối sao cho các loại câu hỏi phát huy được các ưu thế của mình.

 

2.4 Trắc nghiệm khách quan được sử dụng trong các trò chơi lịch sử

Các hình thức tổ chức ngoại khóa vô cùng đa dạng như tổ chức học sinh thành các nhóm tìm hiểu về một vấn đề lịch sử (dân tộc và địa phương); tổ chức đọc sách, thảo luận các vấn đề lịch sử; những hoạt động có quy mô nhân những ngày lễ lớn như tổ chức cắm trại, dã ngoại, dạ hội lịch sử, trò chơi lịch sử... Có nhiều loại trò chơi lịch sử có thể gây hứng thú cho học sinh như ô chữ, thi đố kiến thức về lịch sử, trò chơi mật mã...Trong dịp này câu hỏi trắc nghiệm là một trong những công cụ để tổ chức hiệu quả các hoạt động đó.

 

Nguyễn Thị SáuGV trường THPT Chuyên QB                                                                                                                

Tài liệu tham khảo

1. Phan Ngọc Liên chủ biên (2002), Phương pháp dạy học lịch sử, tập 2, NXB Đại học Sư Phạm, Hà Nội.

2. Nhiều tác giả (2002), Một số chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử, NXB ĐHQGHN

3. Trần Thị Tuyết Oanh (2004), Đánh giá trong giáo dục, NXB Đại học Sư phạm, HN.

4. Trịnh Tùng, Kiều Thế Hưng (1995), Đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông theo hướng hoạt động hoá người học, Chương trình KHCN cấp Bộ, Bộ Giáo Dục và Đào tạo, Hà Nội. 
 

Add comment

Vui lòng viết bình luận bằng tiếng Việt, có dấu


Security code
Refresh

Đăng Nhập

Thăm dò ý kiến

Bạn biết đến Website này qua nguồn thông tin nào?
 

  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh

Bài được quan tâm