Home Tổ chuyên môn Văn Thư viện chuyên môn Nghệ thuật thơ Trần Nhân Tông

Nghệ thuật thơ Trần Nhân Tông

Trần Nhân Tông là một nhà thơ đồng thời là một thiền sư. Cũng như nhiều nhà thơ khác của Đường thi như Vương Duy, thơ Trần Nhân Tông mang đậm dấu ấn nghệ thuật Phật giáo Thiền tông.
 
Trước hết, có thể nhận thấy thơ Trần Nhân Tông hầu như không trực tiếp luận giải những vấn đề trừu tượng trong giáo lý nhà Phật. Tuy nhiên, điều làm nên giá trị thơ Trần Nhân Tông ấy là trong phương pháp tư duy nghệ thuật vẫn nhuốm màu Thiền tông. Trần Nhân Tông đã rất chú ý sử dụng sự đối lập chuyển hoá giữa động và tĩnh, giữa hữu và vô như một dụng ý nghệ thuật nhằm nói lên tính chất bất định, vô thường của cuộc sống và tạo nên sự uyển chuyển sinh động trong câu thơ. Một điều dễ nhận thấy là cảnh vật hiện lên trong thơ Trần Nhân Tông bao giờ cũng có vẻ lặng lẽ siêu thoát và giữa một vùng lặng lẽ như thế vang lên một âm thanh. Bút pháp này có sự kế thừa từ Đường thi, Tống thi.
 
Cổ tự thê lương thu ái ngoại,
Ngư thuyền tiêu sắc mộ chung sơ.
Thuỷ minh sơn tĩnh bạch âu quá,
Phong định vân nhàn hồng thụ sơ
(Ngôi chùa cổ lạnh lẽo sau lớp khói mùa thu,
Thuyền câu hiu quạnh, chuông chiều bắt đầu điểm.
Nước trong, núi lặng, chim âu trắng bay qua,
Gió im, mây nhởn nhơ, cây lơ thơ lá đỏ.

 
Khung cảnh Lạng Châu hiện lên dường như im lìm đến tuyệt đối. Những tính từ được nhà thơ sử dụng trong toàn bộ bài thơ đều gợi lên sự chuyển động nhưng đó là chuyển động vô thanh. Nét tạo hình là một trong những đặc trưng của thơ ca trung đại “ thi trung hữu hoạ”. Trần Nhân Tông đã sử dụng bút pháp này một cách tinh tế, uyển chuyển để làm nên bức tranh châu Lạng vào lúc chiều tà với mây xanh, nước trong, núi lặng. Phải có cái Tâm thanh tĩnh, trong trẻo lắm mới cảm nhận được cái đẹp của non nước nơi đây.  Các sự vật đạt tới cái đỉnh tuyệt đối như thế cũng bởi con người nhìn nó bằng cái Tâm cực tĩnh.
 
Bên cạnh đó, cũng có khi ông dùng sự chuyển động để thể hiện sự hiện hữu vô cùng của tạo vật:
 
Vạn sự thuỷ lưu thuỷ
Bách niên tâm ngữ tâm

 
Các cặp đối lập như "động- tĩnh”, “đại-tiểu”, "hữu- vô”, "hư – thực”… thể hiện sự gắn bó, chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng trong thế giới trong đó cặp đối lập "động- tĩnh"là tiêu biểu nhất cho bút pháp thơ Trần Nhân Tông.  
 
(Bán song đăng ảnh mãn sàng thư,
Lộ trích thu đình dạ khí hư.
Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ
Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ)
Bóng đèn soi nửa cửa sổ, sách đầy giường,
Móc rơi trên sân thu, hơi đêm thoáng mát.
Tỉnh giấc không biết tiếng chầy nện vải ở nơi nào
Trên chùm hoa quế trăng vừa mọc

 
Giữa khung cảnh yên tĩnh của một đêm trăng đẹp thanh tĩnh bỗng vang lên âm thanh của tiếng chày nện vải trong thinh không. Âm thanh này không những không xoá tan đi cái vắng vẻ, u tịch của cảnh vật mà ngược lại nó càng làm cho khung cảnh đạt đến cái tĩnh tuyệt đối. Có thể thấy, tĩnh là một khái niệm thuộc về Phật giáo. Nó được vận dụng vào thơ ca không chỉ về phương diện nội dung mà còn là một biện pháp nghệ thuật đắc dụng.
Ngoài ra, có thể thấy, một trong những nét đặc sắc về nghệ thuật của thơ ca Trần Nhân Tông là sư dụng hình thức cực tiểu nhưng lại diễn tả được nội dung sâu sắc. Trần Nhân Tông làm thơ không phải là ít. Thế nhưng những bài thơ dài của ông không nhiều. Trần Nhân Tông chủ yếu làm thơ thất ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn tứ tuyệt. Những bài thơ mang lại tên tuổi lớn cho Trần Nhân Tông lẽ tất nhiên cũng là những bài thơ tứ tuyệt như Xuân hiểu, Thiên trường vãn vọng…
 
Thụy khởi khải song phi,
Bất tri xuân dĩ quy.
Nhất song bạch hồ điệp,
Phách phách sấn hoa phi.

 
Bài thơ chỉ vẻn vẹn có 20 chữ những lại chứa đựng cả một cảm quan phong phú của nhà thơ về thời gian, cuộc sống. Đồng thời qua đó cũng hiện lên chân dung một con người say đắm với cảnh thiên nhiên đất trời. Hình ảnh “nhất song bạch hồ điệp” vừa là hình ảnh thực thể hiện vẻ đẹp của một buổi sớm đất trời vào xuân, vạn vật giao hoà đồng thời vừa là hình ảnh nói lên tình yêu cuộc sống tha thiết của nhà thơ. “Đa ngôn sổ cùng”- càng nói nhiều càng không thể nói hết được. Đây là hình thức nghệ thuật phổ biến của các nhà thơ Thiền như Trần Nhân Tông, Vương Duy…
 
Thôn hậu, thôn tiền đạm tự yên,
Bán vô, bán hữu tịch dương biên.
Mục đồng địch lý quy ngưu tận,
Bạch lộ song song phi hạ điền.

 
Bài thơ vừa hư vừa thực, vừa nói cái cụ thể mà vẫn đưa lại cho người đọc cảm giác sâu xa, bao quát hơn cái cụ thể. Tưởng như nói chơi mà kì thực cái hữu lí, cái chân đã ẩn sau mỗi chữ, mỗi lời. Trong khung cảnh trời chiều nơi hành cung Thiên Trường, nhà vua nhìn ra đồng ruộng, xóm thôn, lắng nghe tiếng sáo của mục đồng…nhà thơ cảm thấy long mình bị xâm chiếm bởi cảm quan tôn giáo. Hai câu đầu là cái tĩnh của cảnh vật. Hai câu kết là cái động của cảnh vật. Khi cái hữu thắng cái vô thì cái động cũng thắng cái tĩnh. Bài thơ đạt đến mức “thi trung hữu hoạ” được viết theo khuôn khổ của mỹ học Thiền.  
 
Như vậy, với việc thể hiện thành công sự chuyển hoá các cặp đối lập như tĩnh - động, hữu – vô bằng một hình thức cực tiểu, nhà thơ Trần Nhân Tông đã tạo nên cho mình một tiếng thơ riêng: trong sáng, bình dị mà không kém phần uyên thâm. Chính vì thế, đến nay đã gần 1000 năm, thơ ca Trần Nhân Tông vẫn có vị trí riêng, không thể phủ nhận trong dòng văn học trung đại Việt Nam nói chung và văn học Phật giáo nói riêng.
 

Nguyễn Thị Thu Hiền ( Tổ Văn )

 

Add comment

Vui lòng viết bình luận bằng tiếng Việt, có dấu


Security code
Refresh

Đăng Nhập

Thăm dò ý kiến

Bạn thuộc nhóm bạn đọc nào dưới đây
 

  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh
  • Hình ảnh

Bài được quan tâm